Câu hỏi:

Chào luật sư cho e hỏi hồi trc e có lm tại một cty may đc 6 thág thì nghỉ ngag
như trog đó có 3 thág thử việc và 3 thág lm việc chíh thức mà e vô rút sổ thì
cty phạt e ts 6 triệu mốt như theo e biết thì theo luật bảo hiểm xh thì chỉ phạt
nửa thág lươg e xin nhờ luật sư tư vấn dùm e (mà hìh thức trả lươg của cty là
hưởg lươg sp ko theo tg thế cho e hỏi là có pồi thườg nửa thág lươg đó ko

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới: https://luatnqh.vn/

Trả lời:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng
lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12
tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong

những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012
như sau:
“a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không
được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa
thuận trong hợp đồng lao động;
c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện
hợp đồng lao động;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ
nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với
người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời
hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ
hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao
động chưa được hồi phục.”
Ngoài ra người lao động cũng có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trong các trường hợp được quy định tại điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-
CP như sau:
“Điều 11. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại
Điểm c Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp bị người
sử dụng lao động đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh
hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức lao động; bị quấy
rối tình dục tại nơi làm việc.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại
Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp sau
đây:
a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ
hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;
b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;
c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc
chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp
tục thực hiện hợp đồng lao động.”
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp trên,
người lao động phải thông báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
“2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1
Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c
và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03
ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm
d và điểm đ khoản 1 Điều này;
c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo
trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại
Điều 156 của Bộ luật này.
3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho
người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định
tại Điều 156 của Bộ luật này.”
Như vậy, khi người lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động phải báo

trước một thời hạn nhất định cho người sử dụng lao động.
Trong trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc
các trường hợp có quyền chấm dứt hợp đồng lao động nêu trên thì theo Điều
43 Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:
“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao
động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người
sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao
động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại
Điều 62 của Bộ luật này.”

Nếu như người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
luật, không thuộc các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động như quy định trên thì sẽ không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường
cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo như hợp đồng lao động
do hai bên kí kết.
Trường hợp người lao động vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải
bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền
lương của người lao động trong những ngày không báo trước đó. Ví dụ người
lao động có hợp đồng lao động xác định thời hạn chỉ báo trước cho người sử
dụng lao động 3 ngày mà theo quy định phải báo trước ít nhất 30 ngày nên
người lao động vậy người lao động phải bồi thường một khoản tiền tương ứng
với tiền lương của người lao động trong vòng 27 ngày.
Nếu người sử dụng lao động có cho người lao động đi đào tạo để nâng co kĩ
năng, trình độ thì người lao động sẽ phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử
dụng lao động.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của người lao động sẽ tùy thuộc vào việc
người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hay vi
phạm về thời hạn báo trước, mức lương của người lao động.

Nếu còn nội dung chưa rõ xin liên hệ tới Tổng đài tư vấn BHXH để được hỗ trợ miễn phí.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *